1. Nhu cầu dịch thuật
Việt Nam ngày càng phát triển, đất nước ngày càng đổi mới, quan hệ quốc tế mở rộng không ngừng. Nhu cầu về ngoại ngữ gia tăng và một điều đáng mừng là số người thông thạo ngoại ngữ đã tăng lên đáng kể nhờ sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, của các cơ quan, doanh nghiệp và cá nhân cho việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ, trong nước cũng như du học nước ngoài. Tuy nhiên, điều đó không làm giảm đi vai trò của công tác dịch thuật. Ngược lại, số lượng văn bản, tài liệu, tin tức, v.v. cần chuyển dịch ngày một nhiều. Các phương tiện thông tin đại chúng như phát thanh, truyền hình, báo chí cần chuyển dịch thông tin từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt để truyền tải tới quảng đại công chúng. Các hợp đồng, văn kiện dự án, dữ liệu cần được dịch trong các giao dịch hành chính, thương mại, hợp tác quốc tế, v.v. cũng tăng mạnh. Các tác phẩm điện ảnh nước ngoài cần có thuyết minh hoặc phụ đề tiếng Việt. Phần mềm máy tính cần được Việt hoá, tạo thuận tiện cho người sử dụng. Các lớp đào tạo, tập huấn do chuyên gia nước ngoài giảng dạy cần có phiên dịch để nhiều người tham gia học tập hơn. Có thể kể ra vô vàn yêu cầu dịch thuật khác. Rõ ràng nhu cầu dịch thuật hiện nay đang ngày càng đa dạng, gia tăng và tăng mạnh.
2. Thực trạng
Vậy thực trạng công tác dịch thuật những năm gần đây ra sao? Theo hiểu biết chưa đầy đủ của chúng tôi, số lượng cán bộ có thể đảm nhận công việc phiên/biên dịch với chất lượng cao hiện nay không nhiều. Thế hệ những dịch giả lừng danh, đã có rất nhiều bản dịch các tác phẩm tiêu biểu của văn học Nga, Pháp, Anh, Đức, Trung Quốc, v.v. như Đỗ Đức Hiểu, Thái Bá Tân, Thuý Toàn chỉ đếm trên đầu ngón tay, đa số đã khá cao tuổi và không thể làm công tác phiên dịch vốn dĩ khá căng thẳng và đòi hỏi sự nhanh nhạy. Thế hệ thứ hai chuyên sâu vào công tác phiên dịch hơn là biên dịch, nhưng đa phần hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong Bộ Ngoại giao, Vụ Hợp tác quốc tế các bộ hoặc các trường đại học nên cũng không có nhiều thời gian tham gia công việc này. Thế hệ thứ ba như chúng tôi hiện đang giảng dạy tại các trường đại học với số lượng sinh viên khá lớn, khối lượng công việc nặng nề nên cũng không có nhiều người có điều kiện thường xuyên tham gia phiên/biên dịch. Chủ yếu công việc phiên dịch hiện nay do thế hệ thứ tư gồm sinh viên ngoại ngữ mới ra trường ít năm đảm nhiệm. Còn công tác biên dịch kể cả dịch các tác phẩm văn học, được một số lượng đông đảo những người biết ngoại ngữ thực hiện. Công sức của họ thật là to lớn, lượng sản phẩm họ tạo ra thật khổng lồ. Dầu vậy, nhìn tổng thể, có thể nói công tác dịch thuật, cả phiên dịch (dịch nói) và biên dịch (dịch viết) ở nước ta cho đến nay vẫn chưa trở thành một nghề mang tính chuyên nghiệp.
Việc thiếu chuyên nghiệp hoá đã dẫn tới nhiều hậu quả đáng buồn, thậm chí nghiêm trọng. Báo Đầu tư một lần có đăng bài Bộ trưởng cứu phiên dịch kể lại trường hợp phiên dịch đã dịch đoạn nói về công ti Proctor and Gambles là “chúng tôi kinh doanh ở đây như đánh bạc”, mặc dù chữ Gambles ở đây đơn giản chỉ là tên công ti chẳng liên quan gì tới cờ bạc cả. Lần khác, một ngôn ngữ lập trình có tên Java đã được phiên dịch chuyển thành “chúng tôi đã thử nghiệm phần mềm này ở Java” (Indonesia). Lại nữa, trong khi cố gắng thể hiện thể hiện sự tức giận của diễn giả đối với một hiện tượng bức xúc, phiên dịch đã thêm cả từ bloody vào lời dịch, một từ cực kì bất lịch sự trong một khung cảnh trang trọng. Điều đó khiến tất cả cử toạ nước ngoài ồ lên và diễn giả lúc đó chẳng hiểu mình nói gì mà họ lại có phản ứng khác hẳn với các đại biểu Việt Nam như vậy.
Đây mới chỉ là một vài trường hợp điển hình về phiên dịch mà chúng tôi biết. Những sai sót, nhầm lẫn trong biên dịch còn nhiều hơn thế. Một số lời thoại trong nhiều bộ phim đã được người biên dịch ‘bóp méo’, thậm chí còn ‘chỉnh’ ngược lại 180 độ. Chẳng hạn, We can’t get through (trong tình huống đó phải hiểu là Không xong rồi) được chuyển thành Chúng ta không thể xuyên qua; We can’t come to terms (Không thể thống nhất)được chuyển thành Chúng ta không thể đến kì học được. Những sai sót này để lại những hậu quả rất lớn, nhất là đối với phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí. Chúng ta đều hiểu tác động của những phương tiện này đến công chúng mạnh đến nhường nào. Rõ rệt nhất có thể kể đến cấu trúc bị động kiểu như Chương trình này được tài trợ bởi Pond và Ômô, Cuốn sách này được viết bởi Hemingway. Tiếp đó là kiểu câu Người chơi thứ hai tham gia chương trình đó là chị Thanh Thuỷ. Theo suy nghĩ của chúng tôi, những kiểu cấu trúc “lạ lẫm, ngoại lai” này đã trở nên rất phổ biến trong ngôn ngữ hàng ngày hiện nay là do chúng xuất hiện quá nhiều qua ngôn từ của những MC trong nhiều chương trình truyền hình được công chúng ưa thích, nhất là các chương trình trò chơi của VTV3(1). Do vậy, việc sử dụng ngôn từ trên các phương tiện thông tin đại chúng nói chung và công tác biên dịch trong các sản phẩm báo in, báo nói, báo hình nói riêng cần phải cực kì cẩn trọng, đòi hỏi chất lượng và tính chuyên nghiệp cao.
3. Nguyên nhân
Nguyên nhân của thực trạng trên là do đâu? Trước hết, đó là do sự thiếu hụt kiến thức và kĩ năng của người tham gia công tác dịch thuật. Người làm công tác dịch thuật cần nhiều loại kiến thức: ngôn ngữ, văn hoá, kiến thức phổ thông hay kiến thức nền (general or background knowledge) và kiến thức chuyên môn. Họ cần phải thông thạo, có vốn từ vựng phong phú, hiểu biết thấu đáo những vấn đề ngôn ngữ học của cả hai ngôn ngữ, hiểu biết những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ không những chỉ về ngữ pháp mà còn về ngữ nghĩa và ngữ dụng. Những hiểu biết đó gắn chặt với tri thức văn hoá về đất nước, con người, lối sống, thói quen, phong tục tập quán của hai cộng đồng ngôn ngữ. Đến lượt chúng, tri thức văn hoá lại phải dựa trên một nền tảng tri thức bách khoa vững chắc và liên tục được cập nhật. Cuối cùng, mỗi một chuyên ngành có những thuật ngữ, cách diễn đạt riêng, phong cách riêng, đòi hỏi người làm công tác dịch thuật phải hiểu được chí ít là ý nghĩa, nội hàm của chúng, dẫu rằng không thể sâu như một nhà chuyên môn. Tiếc thay, việc đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành tới nay vẫn chưa đạt hiệu quả cao, cả về phía giáo viên lẫn học viên, như Đinh Văn Đức và Kiều Châu nhận định “…
Cho đến nay chúng ta chưa có một chiến lược đào tạo đội ngũ ngoại ngữ chuyên ngành. Tuyệt đại bộ phận giáo viên của các bộ môn ngoại ngữ khi dạy chuyên ngành đều tự học và tự tìm lối. Tính du kích và phi chuyên nghiệp chính là ở đây.”(2)
Điều này dẫn tới nhiều thách thức đối với công tác dịch thuật; nhà chuyên môn giỏi thì khả năng thành thạo ngoại ngữ lại thấp, người giỏi ngoại ngữ lại thiếu kiến thức chuyên môn, và một số người hội đủ cả hai phẩm chất này ở mức thuần thục thật quá ít ỏi. Bằng chứng có thể thấy như embedded systems được các chuyên gia tin học dịch là hệ thống nhúng, environmentally friendly technology được các nhà môi trường dịch là công nghệ thân môi trường. Dĩ nhiên dịch như thế có thể vẫn khả chấp, song nếu họ có kiến thức ngôn ngữ tốt hơn thì đã lựa chọn cách diễn đạt trong sáng, dễ hiểu hơn. Song ngược lại, nếu những thuật ngữ như trên được đưa cho những người chỉ biết ngoại ngữ mà không hiểu biết về tin học hay môi trường thì chưa chắc đã tìm được một thuật ngữ phù hợp.
Ngoài những thiếu hụt về kiến thức, nhiều người làm phiên dịch hiện nay còn thiếu kĩ năng. Họ không hiểu hết những đòi hỏi của công tác phiên dịch nên không chú tâm đào luyện những kĩ năng cần thiết của nghề này, chẳng hạn như kĩ năng ghi nhớ thông tin, tái tạo lại ý tưởng người nói mới truyền đạt, kĩ năng diễn thuyết trước công chúng (public speaking), v.v. Đây là hai nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng trên.
Một điều cần nói nữa là cách nhìn nhận của công chúng nói chung và người sử dụng phiên/biên dịch nói riêng. Có thể nói công việc phiên/biên dịch cơ bản cho đến nay vẫn chưa được coi là một nghề thực sự, một công việc có tính chuyên nghiệp cao. Đa số người ta vẫn quan niệm rằng hễ ai thông thạo ngoại ngữ là có thể làm phiên/biên dịch được mà không hiểu hết những đòi hỏi của nó. Đó là một quan niệm sai lầm. Không phải ai biết ngoại ngữ là có thể làm được phiên/biên dịch. Nhiều giáo viên ngoại ngữ giảng dạy rất có uy tín, có trình độ cao, đã có điều kiện đi học ở nước ngoài về, song khi phải đảm nhận công việc phiên/biên dịch vẫn gặp khó khăn, lúng túng hay nói nôm na là ‘dịch gẫy’. Ngay cả giáo viên giảng dạy môn dịch ở nhiều trường/khoa ngoại ngữ không phải ai cũng có thể làm phiên dịch tốt. Nghề giảng dạy ngoại ngữ nói chung và giảng dạy môn dịch nói riêng, nghề phiên dịch và nghề biên dịch là những nghề có liên quan, tác động đến nhau rất lớn, nhưng không phải đồng nhất mà là những nghề riêng biệt.
4. Nhu cầu đào tạo và chuẩn hoá
Qua những thảo luận trên đây, chúng tôi thiết nghĩ với tư cách là một nghề chuyên nghiệp, những người làm công tác phiên/biên dịch cần được đào tạo một cách chuyên nghiệp, bài bản và cần phải chuẩn hoá. Đã gần hết thập kỉ đầu tiên của thế kỉ 21, thế kỉ của kinh tế tri thức, của hàng loạt các tiêu chuẩn như ISO, GMP mà các nhà sản xuất, doanh nghiệp ở mọi lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y dược, v.v. phải đảm bảo và tuân thủ nếu muốn cung cấp cho người sử dụng những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng để tồn tại và phát triển trong thế giới toàn cầu hoá, cạnh tranh mạnh mẽ hiện nay. Nghề phiên dịch và nghề biên dịch cũng cần phải có những tiêu chuẩn chuyên nghiệp như vây.
Thứ nữa, người/cơ quan sử dụng phiên/biên dịch cũng cần nhận thức rõ điều này để đảm bảo chất lượng của công việc. Chất lượng của mọi hoạt động, dịch vụ, sản phẩm phải được sự đảm bảo, tuân thủ của cả phía người sản xuất/cung cấp lẫn người sử dụng. Nếu người sử dụng còn coi nhẹ chất lượng, tự thoả mãn theo quan điểm “miễn cứ có là được”, bất luận tốt xấu, thì còn có sản phẩm/dịch vụ kém, gây tác hại không chỉ ngay trước mắt mà còn lâu dài về sau. Sản phẩm của biên/phiên dịch cũng không phải là ngoại lệ. Nếu tình trạng ‘nghiệp dư’ từ những năm 60, 70 của thế kỉ trước trong công tác này vẫn tiếp diễn thì chẳng khác gì hàng hoá sản phẩm của chúng ta vẫn chỉ theo kiểu ‘tự sản tự tiêu’, chất lượng thấp chứ không thể xuất khẩu, xâm nhập thị trường quốc tế được.
Nói tóm lại, bài viết này thể hiện mong muốn cao nhất của chúng tôi là (i) chuyên nghiệp hoá nghề biên/phiên dịch bằng những tiêu chuẩn chuyên nghiệp, qua đào tạo chuyên nghiệp; và (ii) người/cơ quan sử dụng biên/phiên dịch cần nhận thức và đánh giá đúng đắn tầm quan trọng của nghề này cũng như những đòi hỏi chuyên nghiệp của nó để đảm bảo chất lượng.
Tài liệu tham khảo
- Đinh Văn Đức & Kiều Châu. Vài nhận thức về ngoại ngữ và việc dạy ngoại ngữ chuyên ngành ở bậc đại học. Tạp chí Ngôn ngữ số 12 năm 2005, tr. 60-68.
- Code of Conduct for Interpreters. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
- Code of Conduct. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
- Interpreting Asia, Interpreting Europe. Dự án Asia Links, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Đại học Hà Nội), 2005.
- Kỉ yếu Hội nghị “Công tác dịch thuật và đào tạo cử nhân phiên-biên dịch” lần thứ nhất. Đại học Huế, tháng 8 năm 2007.
______________
(1) Tất nhiên, các MC sử dụng những cấu trúc như vậy trong những ngữ cảnh ấy cũng có những dụng ý nhất định và chẳng có gì là không phải nhưng khi chúng được người ta bắt chước và sử dụng không hợp lí ở những ngữ cảnh khác thì “không xuôi tai” cho lắm đối với người Việt. Ấy thế, nhưng người ta dùng lâu dần thành quen, như trường hợp bị trong Cô ấy hơi bị đẹp đấy; Bộ phim này hơi bị hay đấy. Đây là những hiện tượng biến đổi ngôn ngữ rất đáng quan tâm.
(2) Đinh Văn Đức và Kiều Châu, Vài nhận thức về ngoại ngữ và việc dạy ngoại ngữ chuyên ngành ở bậc đại học, Tạp chí Ngôn ngữ số 12 năm 2005, tr. 60–68.
(Theo Ngôn ngữ & Đời sống, số 10 (144) – 2007.)
Mới 26 tuổi mà được phong làm phó giáo sư tại một đại học có tầm cỡ, vượt qua hàng trăm ứng viên khác, thì quả là quá tài giỏi. Nhưng bản chất của người trí thức là hoài nghi. Có quả thật thông tin mà bài báo cung cấp là đúng với thực tế, hay lại là một ca ngợi vẽ chim thành phượng như bao nhiêu bài báo khác? Tiến sĩ Nguyễn Đình Đăng, hiện đang công tác ở Nhật, tò mò kiểm tra thì thấy bài báo của Hoàng Lê có nhiều thông tin không đúng với sự thật, như chức danh thật của Hà Dương là Maitre de Conferences, tương đương với chức danh Assistant Professor (theo hệ thống khoa bảng bên Mĩ) như trên trang nhà của bộ môn mà Hà Dương đang công tác ghi rõ ràng. Nguyễn Đình Đăng viết: “Là một người Việt Nam, tôi rất mừng vì dòng giống con rồng cháu tiên của chúng ta có nhiều người học cao và tài giỏi như TS Phan Thị Hà Dương, Ngô Bảo Châu, v.v. Nhưng chụp cho “maître de conférences” cái mũ “phó giáo sư” là một sự tùy tiện có lẽ chỉ nước Nam ta mới có. Việc đánh tráo khái niệm này có thể làm độc giả hiểu sai thực chất của một nhà khoa học trẻ, bảo vệ tiến sỹ tháng 1 năm 1999, và sau đó 8 tháng nhận biên chế maître de conférences (giảng viên). Cần lưu ý rằng khi nhận vị trí này cô chưa có một công trình nào được công bố trên tạp chí chuyên ngành vì bài báo đầu tiên của cô đăng tại tạp chí chuyên ngành là vào năm 2001 [..]. Sau khi bảo vệ tiến sỹ, cô đã đăng 8 công trình nghiên cứu trên tạp chí quốc tế trong vòng 4 năm (từ năm 2001 đến 2004). Đó là một thành tích đáng khen. Tuy nhiên, không biết ở Việt Nam ta thế nào, chứ ở châu Âu, Mỹ, Nhật Bản ngày nay không thể có chuyện một người mới 26 tuổi và chỉ với số lượng (chưa nói đến chất lượng) 8 bài báo được đăng (hoặc đang chờ được đăng) lại có thể trở thành phó giáo sư tại một đại học danh tiếng.”
Với giọng văn tương đối gay gắt, bài viết của Nguyễn Đình Đăng đã gây ra một cuộc tranh luận khá căng thẳng trên internet chung quanh những vấn đề được nêu lên. Một số người bày tỏ ý kiến ngầm ủng hộ nội dung bài báo của Hoàng Lê và quay sang tố cáo Nguyễn Đình Đăng đã từ chuyện bé xé thành chuyện to; một số thì xoay quanh những khó khăn trong việc chuyển ngữ các chức danh khoa bảng từ tiếng Pháp sang tiếng Anh và về lại tiếng Việt; một số khác thì chỉ ra đây cũng chỉ là một trong số hàng loạt những bài đánh đồng cá nhân quá trớn.
Những tranh luận này xảy ra ngay sau khi Nhà nước vừa ra quyết định công nhận chức danh giáo sư và phó giáo sư cho 339 nhà khoa học (VietNamNet 10/11/2004); và cũng như các lần trước, việc xét phong chức danh lần này cũng gây ra vài tranh luận, nghi ngờ. Có ý kiến cho rằng một số vị được tiến phong chức danh này chưa xứng đáng với khả năng thật trong hoạt động khoa học, và cũng có người đặt vấn đề tiêu chuẩn được được công nhận chức danh giáo sư. Bàn về vấn đề tiêu chuẩn, Giáo sư Đỗ Trần Cát, Tổng thư kí Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước cho biết Việt Nam phải hạ tiêu chuẩn thấp xuống mới có giáo sư! Thành ra, người viết bài này cảm thấy câu chuyện chung quanh bài báo của Hoàng Lê và Nguyễn Đình Đăng còn đặt ra một số vấn đề khá thời sự ở nước ta liên quan đến chức danh khoa bảng và các tiêu chuẩn đánh giá công trình nghiên cứu khoa học cũng như đề bạt nhà khoa học.
Thứ nhất là sự khác biệt của hệ thống chức danh khoa bảng giữa Mĩ, Pháp và Việt Nam. Ở Mĩ, thông thường, sau khi sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ và sau ít nhất là 2 năm nghiên cứu hậu tiến sĩ, họ có thể xin được đề bạt vào ngạch giáo sư. Có ba bậc giáo sư xếp theo thứ tự thấp nhất đến cao nhất: Assistant Professor, Associate Professor, và Professor. Còn ở Pháp, cán bộ giảng dạy hay nghiên cứu trong các trường đại học chỉ có 2 bậc: Maître de Conférences và Professeur de Université. Ở Việt Nam, hệ thống tuy phức tạp hơn hệ thống của Mĩ và Pháp, nhưng nói chung cũng có thể chia thành 3 bậc: giảng viên, phó giáo sư và giáo sư. Nếu cần nói thêm, tôi muốn nói rằng hệ thống ở Anh và Úc có đến 4 chức vụ chính: Lecturer, Senior Lecturer, Associate Professor, và Professor.
Đến đây thì có vấn đề tương đương giữa các chức vụ trên đây. (Ở đây, tôi chỉ nói “tương đương” trên danh xưng mà thôi, chứ chưa nói đến tương đương về chức vụ và trách nhiệm). Nếu so sánh giữa Việt Nam và Mĩ thì chúng ta có thể phân cấp khá dễ dàng: Giảng viên = Assistant Professor, Phó giáo sư = Associate Professor, và Giáo sư = Professor.
Nhưng nếu so giữa hệ thống của Pháp với Việt Nam (hay Mĩ) thì sao? Vì Pháp chỉ có 2 bậc mà Việt Nam và Mĩ có đến 3 bậc, thành ra có thể lí giải rằng Maître de Conférences của Pháp có thể tương đương với Assistant Professor hay Associate Professor. Và, cũng dùng theo cách phân cấp đó, người ta vẫn có thể nói một Professeur của Pháp có thể tương đương với Associate Professor hay Professor của Mĩ!
Ở Anh và Úc, các trường đại học vẫn khẳng định rằng chức Lecturer của họ tương đương với Assistant Professor của Mĩ và Maître de Conférences của Pháp; còn Senior Lecturer của Úc thì tương đương với Associate Professor của Mĩ. Thế thì sự tương đương giữa hai chức danh Associate Professor / Professor của Anh và Associate Professor / Professor của Mĩ thì sao? Không có câu trả lời chính thức, bởi vì còn tùy thuộc vào … lí lịch khoa học.
Thứ hai là những khó khăn về dịch thuật. Ngày nay, chúng ta đều nhất trí dịch chữ Professor (hay tiếng Pháp, Professeur) là Giáo sư. Chúng ta cũng nhất trí rằng Associate Professor dịch là Phó giáo sư. Thực ra, đây cũng chỉ là một cách dịch tương đối mà thôi, chứ -- như tôi đã từng phát biểu trước đây -- tuy mang danh là “phó” nhưng trong thực tế những người mang chức danh Associate Professor chẳng làm phó cho giáo sư nào cả.
Nhưng khó khăn nhất vẫn là chức danh Assistant Professor (Mĩ) nên dịch sang tiếng Việt là gì ? Có người đề nghị Assistant Professor nên dịch là trợ lí giáo sư, nhưng tôi e rằng cách dịch này không mấy chính xác, bởi hai lẽ: (i) trợ lí giáo sư là một chức vụ ngoài khoa bảng tương đương với tiếng Anh Professorial Assistant; và (ii) tuy mang danh là Assistant (phụ tá), nhưng trong thực tế những người mang chức danh Assistant Professor chẳng phụ tá cho giáo sư nào cả, mà là những nhà nghiên cứu độc lập, hoàn toàn có tư cách chủ trì các công trình nghiên cứu. Như nói trên, Assistant Professor là một chức vụ khoa bảng thấp nhất trong ba bậc giáo sư, và những người mang chức danh này là những nhà khoa bảng đang trong giai đoạn củng cố địa vị chuyên môn để chuyển tiếp lên một cấp bậc cao hơn. Do đó, có lẽ Assistant Professor nên dịch là “Giáo sư dự khuyết”. Thú thật, ngay cả tôi cũng không cảm thấy hài lòng với cụm từ này (cũng như chưa hài lòng với chức danh Phó giáo sư, nhưng thiết nghĩ tất cả chuyển ngữ về chức danh chỉ là … tương đối.
Càng khó hơn nữa là chức danh Maitre de Conferences (Pháp). Nếu xét trên danh xưng thì chức danh này không có chữ Professeur và do đó không thể dịch là giáo sư được. Nhưng xét trên thứ bậc đẳng cấp thì chức vụ này chỉ thấp hơn Professeur một bậc (bởi vì đại học Pháp chỉ có 2 bậc "giáo sư"), vậy có nên dịch Maitre de Conferences là Phó giáo sư không ? Như đã đề cập trên, chức danh Maitre de Conferences tương đương với Assistant Professor, mà cũng có thể tương đương với Associate Professor, cho nên cả giảng viên và Phó giáo sư đều có thể thích hợp ! Như vậy, vấn đề dịch các chức danh khoa bảng có khi cần phải xét đến chức vụ và thành tích khoa học của nhà khoa học.
Những khó khăn trên dẫn đến vấn đề thứ ba là tiêu chuẩn để đánh giá khả năng của một nhà khoa học và chất lượng công trình nghiên cứu khoa học. Các chức danh và chức vụ khoa bảng như giảng viên và giáo sư thường thường do hội đồng khoa bảng của trường đại học phê chuẩn và bổ nhiệm. Hội đồng khoa bảng dựa vào 4 tiêu chuẩn chính đề làm cơ sở cho việc phê chuẩn và bổ nhiệm : thành tích hoạt động khoa học, giảng dạy và cống hiến vào việc quản trị phân khoa đại học, khả năng thu hút tài trợ cho nghiên cứu, và hoạt động cộng đồng. Trong 4 tiêu chuẩn này, thành tích hoạt động khoa học được xem là tiêu chuẩn quan trọng nhất.
Thành tích hoạt động khoa học được đánh giá bằng các tiêu chí như số lượng và chất lượng bài báo khoa học đã công bố, số lượng bằng phát minh (patents of invention), uy danh và sự công nhận của giới chuyên môn trong ngành. Không có trường nào có qui định cụ thể ứng viên phải có bao nhiêu bài báo khoa học để được đề bạt, nhưng thông thường, những con số được "hiểu ngầm" là giáo sư dự khuyết phải có từ 5 bài báo trở lên, phó giáo sư thì ít nhất là 20, và giáo sư thì ít nhất là 50.
Nhưng số lượng công trình không nói lên được chất lượng của công trình nghiên cứu. Hội đồng khoa bảng thường dựa vào hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor) của tập san mà bài báo khoa học được đăng. Hệ số này thực chất là số lần trích dẫn (citation), tính trung bình, cho những bài báo đã đăng trên tập san trong vòng 2 năm trước. Chẳng hạn như năm 2003 và 2004 tập san đăng 200 bài báo khoa học, và năm 2005 có 400 lần trích dẫn các bài báo trong hai năm qua, thì hệ số ảnh hưởng được ước tính là 400/200 = 2. Nói chung, tập san nào có hệ số ảnh hưởng cao hơn 5 được xem là có uy tín cao.
Tuy nhiên, hệ số ảnh hưởng của tập san cũng tùy thuộc vào bộ môn khoa học (chẳng hạn như các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm thường có hệ số ảnh hưởng cao hơn các tập san trong các ngành khoa học tự nhiên và toán học). Vả lại, hệ số ảnh hưởng chỉ phản ánh uy tín của tập san chứ không hẳn phản ánh ảnh hưởng của bài báo trên tập san. Trong lịch sử khoa học, không ít công trình có ảnh hưởng lớn (hiểu theo nghĩa được nhiều người trích dẫn và tham khảo) nhưng chỉ xuất hiện trên các tập san với hệ số ảnh hưởng thấp, hay thậm chí chưa bao giờ công bố chính thức trên một tập san ! Cho nên một cách đánh giá chất lượng khác là tính số lần các nhà khoa học khác trích dẫn bài báo (citations) mà nhà khoa học đã công bố. Số lần trích dẫn nhiều cũng có nghĩa là công trình nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong chuyên ngành. Ngược lại, nếu nhà khoa học dù có hàng trăm bài báo, nhưng không ai trích dẫn thì những bài báo này cũng chỉ là một đống rác chữ nghĩa vô dụng.
Bài học
Qua những tranh luận chung quanh bài báo về Phan Thị Hà Dương trên VietNamNet, chúng ta cũng có thể rút ra một vài kinh nghiệm về việc đánh giá độ tin cậy và tính chính xác của thông tin. Một bài học hiển nhiên cho những người viết báo là cần phải kiểm tra thông tin cẩn thận để tránh nhầm lẫn. Internet là một phương tiện quan trọng trong việc kiểm tra thông tin. Với hệ thống truy tìm thông tin của Google, việc rà soát chức danh và chức vụ cũng như quá trình hoạt động nghiên cứu của một nhà khoa học trong các đại học Tây phương thật là dễ dàng. Có thể nói bất cứ đại học nào ở các nước Tây phương cũng đều có một trang web, và trong trang web đó có danh sách giáo sư với những chức vụ khá rõ ràng. Muốn biết chuyên môn của một giáo sư là gì, hay bao nhiêu công trình khoa học gắn liền với tên của vị giáo sư cũng chỉ cần năm ba phút là cũng có được.
Tuy nhiên không phải thông tin nào trên internet, nhất là các trang web mang tính phi chính thức (unofficial), đều có độ chính xác cao. Rất nhiều thông tin trong các trang web như Wipipedia, tuy mang danh là từ điển bách khoa cho đại chúng, chưa nhiều sai sót nghiêm trọng. Thành ra, không bao giờ phụ thuộc vào thông tin của một trang web, cho dù trang web đó là của trường đại học ! Nếu cần thiết, nhà báo vẫn có thể liên lạc với những chuyên gia có thẩm quyền để rà soát thông tin và kiểm tra lại các thông tin trên internet.
Người Tây phương có câu “Đừng bao giờ đánh giá cuốn sách qua bìa sách” (never judge a book by its cover), cũng giông giống như chúng ta hay nói “không nên xem mặt đặt tên”. Dùng cách nói đó, thiết tưởng tôi cũng có thể nói không nên đánh giá một nhà khoa học qua trường đại học hay viện nghiên cứu mà nhà khoa học công tác hay tốt nghiệp. Trong thực tế, không ít giáo sư trong các đại học nổi tiếng ở Tây phương, kể cả giáo sư gốc Việt, cũng rất xoàng xĩnh, chứ chẳng phải là giáo sư hạng "đẳng cấp quốc tế" gì cả.
Ở Việt Nam ta, tiêu chuẩn để tiến phong giáo sư đang là một vấn đề thời sự. Có ý kiến cho rằng tiêu chuẩn còn quá thấp, nhưng cũng có ý kiến tiêu chuẩn quá cao. Trong một lần trả lời phỏng vấn đăng trên VietNamNet ngày 11/3/2004 (http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2004/03/54931), Thư kí hội đồng chức danh giáo sư nhà nước (Giáo sư Đỗ Trần Cát) cho biết : « Mỗi ứng viên cho chức danh giáo sư phải có 2 điểm - tương đương với hai công trình - đăng trong các tạp chí uy tín », và mỗi ngành chỉ có hai « tạp chí uy tín » ở trong nước, hiểu theo nghĩa « nếu đăng ở đấy thì nó khó, chất lượng cao hơn. Còn việc chọn đâu là hai tạp chí uy tín của mỗi ngành thì do hội đồng ngành đề xuất, hội đồng thường trực sẽ thông qua. Còn các bài báo đăng ở tạp chí khoa học ngoài nước tất nhiên là không hạn chế rồi ». Nói cách khác, theo qui định này, để đề bạt chức vụ giáo sư, ứng viên chỉ cần có 2 bài báo khoa học ! Tôi nghĩ những tiêu chuẩn này chẳng những quá thấp, mà còn chưa đủ vì, như đã nói trên, con số bài báo không thể phản ánh chất lượng nghiên cứu.
Bất cứ thời nào, bất cứ ở đâu, bất cứ ngành nào đều có những rác rưởi được đánh bóng và xuất hiện dưới danh nghĩa "công trình nghiên cứu khoa học". Ngày nay, trên thế giới có khoảng 108.000 tập san gọi là “khoa học”, và con số vẫn còn tăng hàng năm. Thành ra, một công trình nghiên cứu dù cho có chất lượng thấp cỡ nào đi nữa, và nếu tác giả kiên trì theo đuổi, thì nó cũng được in trong một tập san nào đó. Herbert Simon (giải Nobel kinh tế học) từng nói một câu chí lí: Sự dồi dào thông tin tạo nên tình trạng thiếu tập trung (“A wealth of information creates a poverty of attention”). Theo phân tích của Viện thông tin khoa học (Institute of Scientific Information, ISI) có khoảng 55% các bài báo khoa học trên thế giới không bao giờ được ai trích dẫn, không bao giờ được ai (kể các chính tác giả) tham khảo sau 5 năm công bố ! Ngay cả trong số được trích dẫn, cũng chỉ rất … lèo tèo. Chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Điều này có nghĩa là không không thể nào đánh giá khả năng của nhà khoa học qua con số lượng bài báo, và càng không đánh giá công trình khoa học chỉ vì công trình đã được công bố, mà phải xét đến số lần trích dẫn.
Xã hội có quyền đặt kì vọng cao vào những người mang chức danh "giáo sư", bởi vì họ là một phần của bộ mặt của khoa học Việt Nam. Người dân muốn thấy những người mang chức danh giáo sư phải có khả năng tương xứng với đồng nghiệp quốc tế. Trong chiều hướng hội nhập quốc tế có lẽ đã đến lúc chúng ta xem xét lại các tiêu chuẩn chất lượng trong việc xem xét đề bạt giáo sư ở nước ta. Đành rằng cũng cần phải xem xét đến các điều kiện mang tính địa phương trong khi đề bạt giáo sư, nhưng các hoạt động khoa học thì lại mang tính quốc tế, và không có lí do gì các thước đo khách quan mà đa số nước trên thế giới đang sử dụng không áp dụng cho nước ta.
Nguồn: ykhoanet.com
Nếu nói dịch thuật là quan trọng, chắc ít ai phản đối, nhưng nếu nói người dịch chỉ là kẻ ăn theo tác giả, có lẽ số người đồng ý cũng không ít hơn. "Con khỉ của nhà văn" - đó là danh hiệu mà mà Gabriel Marquez, chủ nhân giải Nobel 1982, ban tặng cho các dịch giả, những người đã chuyển cuốn tiểu thuyết Cien anos de soledad của ông sang hàng trăm thứ tiếng khác nhau trên thế giới.
Không phải vô cớ mà dịch giả Nguyễn Trung Đức, "con khỉ" của bản Trăm năm cô đơn, trước khi mất, từng nhắc đến danh hiệu này với ít nhiều thích thú. Cách diễn đạt đầy chất văn chương của Marquez không chỉ độc đáo mà còn nhân từ, thậm chí quá nhân từ so với những gì các dịch giả thường được nghe từ miệng các nhà văn. Khi còn làm biên tập viên nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân, tôi thường được nghe nhiều người, trong đó có cả, và nhất là các nhà văn, nói: "Bọn dịch giả các cậu sướng thật. Người ta sáng tác sẵn, các cậu chỉ cần chuyển ngữ là xong, có tiền tiêu!".
Và tiền nhuận bút dịch đâu phải ít: Theo quy định của nhà nước, tuỳ theo chất lượng và thể loại, nhuận bút dịch có thể tới 75% nhuận bút sáng tác. Nghe quả thật sướng tai! Một nhà văn đương đại tên tuổi thì nhận định: "Phàm những thằng biết ngoại ngữ đều không thể sáng tác hay được. Nếu sáng tác hay được thì hãy tự sáng tác đi, cần gì phải chọn kiểu ăn sẵn!" Ông không nói hết, nhưng đám dịch giả cần phải hiểu hết: Các anh chỉ là lũ kí sinh, cả đời chỉ làm mỗi việc "chuyển ngữ" tác phẩm của người khác để lấy tiền!
Nhưng tất cả những điều kể trên vẫn là chuyện nhỏ so với những lỗi lầm tày trời mà dịch giả nào cũng không ngừng phạm phải. Nếu là thi sĩ "nghĩa là ru với gió", thì là dịch giả nghĩa là nghe mắng mỏ. Giáo sư Harry Aveling, trường Đại học La Trobe, Melbourne, Australia viết trong tiểu luận "Mistakes" in Translation: A Functionalist Approach: "Các dịch giả luôn luôn bị chỉ trích vì những lỗi lớn nhỏ nhiều không kể xiết. Tất cả những ai làm nghề này đều biết rõ điều đó. Chúng ta làm việc quần quật hàng năm trời, với mọi khả năng tinh tế và sự cẩn trọng, chỉ để nhận được những câu nhận xét đại loại: "Anh bỏ mất của tôi một dấu phẩy ở trang 45", "loại chim này thuộc họ bồ câu chứ đâu phải thuộc họ ác là" hoặc "thể giả định là một trong những đặc điểm nổi bật trong phong cách tác giả, nhưng anh đã không chuyển được sang bản dịch".
So với những lời này, danh hiệu "con khỉ" đúng là vinh dự hơn nhiều, vì dù sao nó cũng mang dáng dấp nghệ sĩ! Nguyễn Trung Đức tâm đắc với cái danh hiệu do Marquez tặng quả cũng có lí của ông!
Thái độ trịch thượng đối với dịch thuật xuất phát từ một quan niệm phổ biến, cho rằng viết văn là công việc của cảm hứng sáng tạo, trong đó nhà văn đóng vai trò của Thượng Đế: Anh/chị ta tạo nên một tác phẩm trọn vẹn và người đọc chỉ việc thưởng thức, còn giữa họ, người dịch chỉ đơn thuần là kẻ trung gian. Theo quan điểm này, dịch thuật vừa dễ dàng hơn, vừa ít sáng tạo hơn so với sáng tác.
Là một người luôn luôn phải phân thân giữa viết và dịch, từ lâu lắm tôi đã lờ mờ nhận thức được rằng đó là một quan niệm sai lầm. Nhưng sai lầm ở chỗ nào? Tôi xin mô tả lại những suy nghĩ, đúng hơn là những thay đổi trong suy nghĩ, của mình về công việc dịch thuật, theo một trật tự thời gian. Chính sự thay đổi ấy là điều tôi muốn chia xẻ với bạn đọc trong tiểu luận này.
Đầu tiên, tôi nhận thấy đòi hỏi về tính chuyên nghiệp của dịch thuật. Tất cả những ai từng dịch thuật đều biết rằng dịch thuật không hề dễ dàng hơn, và đôi khi còn khó khăn hơn nhiều so với sáng tác. Trên thực tế, nhiều người học hành rất ít vẫn có thể viết được một bài thơ, một truyện ngắn sạch nước cản, nhưng không ai có thể trở thành dịch giả nếu thiếu sự chuẩn bị công phu. Lí do dễ thấy là muốn trở thành dịch giả, người ta phải mất nhiều năm để nắm vững một ngoại ngữ, phải có một vốn kiến thức văn hoá rộng lớn và sự tinh tế cá nhân, và phải thông thạo tiếng mẹ đẻ. Yêu cầu về sự tinh thông tiếng mẹ đẻ đối với dịch giả dường như gay gắt hơn nhiều so với người sáng tác: Có nhiều người sáng tác rất trơn chu, nhưng hễ bắt tay vào dịch là văn trở nên ngây ngô, khô cứng, thậm chí tối nghĩa. Những lập luận này tôi cũng được nghe nhiều người nói, và không phải là không thuyết phục, nhưng nó không làm thay đổi được thái độ của xã hội về dịch thuật.
Rồi tôi nhận thấy đòi hỏi về tính sáng tạo của dịch thuật. Điều này cũng đã nhiều người khẳng định: Dịch thuật không hề kém sáng tạo hơn so với sáng tác. Công việc dịch thuật dường như có ba cấp độ, và tương ứng với ba cấp độ ấy, dịch giả đồng thời phải là nhà ngôn ngữ, nhà văn hoá và nhà tâm lí.
Cấp độ thứ nhất mang tính ngôn ngữ. Để hiểu một ngôn ngữ thì người ta phải học về ngữ nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ cũng các mối liên hệ của chúng trong một hệ thống nhất định. Người dịch phải hiểu không phải một, mà hai ngôn ngữ. Anh/chị ta phải học về ngữ nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ cùng các mối liên hệ của chúng trong hai hệ thống ngôn ngữ khác nhau. Người dịch cũng không thể dừng lại ở đó. Anh/chị ta phải có khả năng so sánh, đối chiếu hai hệ thống ngôn ngữ để tìm cách biểu đạt ít nhiều "tương đương".
Cấp độ thứ hai mang tính văn hoá. Để hiểu được văn bản người ta còn phải học văn hoá. Người ta có thể biết tất cả mọi từ, nắm vững mọi hiện tượng ngữ pháp trong một câu mà vẫn không hiểu câu đó gì. Một tài liệu chuyên môn trong nghề hàng hải, chẳng hạn, là một tập hợp những câu bí hiếm đối với người không hiểu biết về ngành hàng hải. Nhưng không phải chỉ có những văn bản chuyên ngành mới gây khó khăn cho việc tiếp nhận. Khó khăn lớn nhất là các điển tích. Mọi văn bản đều chứa đựng những điển tích. Điển tích có thể nằm trong sách vở hay trong cuộc sống. Thuật ngữ chuyên môn, từ lóng đều là những dạng điển tích khác nhau. Và nói cho cùng thì mỗi từ là một điển tích. Tôi đã viết một bài tiểu luận dài về chủ đề này, ở đây chỉ xin nói rằng người ta không thể sử dụng điển tích một cách chính xác nếu không biết về nó. Với một người Mĩ không hề biết Truyện Kiều, câu nói "Gã Sở Khanh ấy" không khác câu "Thằng John ấy". Nhưng mọi chuyện sẽ khác hẳn nếu anh đã đọc, đã nhớ, đã yêu tác phẩm của Nguyễn Du. Khả năng khám phá và sử dụng các điển tích, nói cho cùng, chính là bản chất của cái mà ta quen gọi là "vốn văn hoá".
Cấp độ thứ ba tôi xin gọi là cấp độ tâm lí, mặc dù nó tinh tế và phức tạp hơn nhiều. Trên thực tế, ngay cả khi đã tinh thông ngôn ngữ và có vốn văn hoá sâu rộng, người ta vẫn có thể dịch rất dở. Vấn đề là ở chỗ trong nhiều trường hợp người dịch không phán đoán được, hoặc phán đoán sai lầm phản ứng của người đọc. Tôi lấy làm một ví dụ tên bộ phim của một đạo diễn Trần Anh Hùng, Mùa hè chiều thẳng đứng. Tên tiếng Pháp của nó là A la verticale de l'été. Vì tên phim trong cả hai thứ tiếng đều do tác giả đặt, nên ta không thể bàn về sự chính xác vốn đã rất tương đối trong dịch thuật. Ở đây tôi chỉ muốn bàn về sự khác nhau giữa chúng. Tên phim trong tiếng Pháp rất rõ ràng, trong khi đó cái tên tiếng Việt lại có một sự mập mờ - sự mập mờ mà theo tôi đã làm cho cái tên tiếng Việt đẹp hơn trong tiếng Pháp. Sự mập mờ nằm ở chữ "chiều". Mùa hè chiều thẳng đứng. Khi chưa biết tên phim bằng tiếng Pháp, tôi nghĩ "chiều" là "buổi chiều". Thật đẹp, buổi chiều thẳng đứng. Một buổi chiều thẳng đứng mùa hè. Cái tên gợi rất nhiều suy nghĩ, bởi nó nó rất thơ, rất triết, và nhất là nó rất khác thường. Tôi đã thử hỏi rất nhiều người và nhiều người trong số họ cũng nghĩ "chiều" ở đây là một buổi chiều. Cái tên còn gợi mở hơn nữa vì "chiều" cũng có thể hiểu là "phương". Thú thật, tôi đã hơi thất vọng khi biết, nhờ cái tên tiếng Pháp, rằng "chiều" chỉ đơn thuần là từ "phương". Cái tên tiếng Pháp chỉ đơn thuần là "Phương thẳng đứng của mùa hè", hay "Mùa hè phương thẳng đứng". Cho đến bay giờ, tôi vẫn muốn tin rằng sự mập mờ trong cái tên tiếng Việt là cố ý, rằng đó là sáng tạo của tác giả. Tuy nhiên, điều rút ra ở đây lại là tầm quan trọng của những phán đoán tâm lí. Một dịch giả giỏi là phải lường trước được những phản ứng tâm lí của người đọc khi đọc những dòng chữ của mình, để gợi lên ở họ những xúc cảm thẩm mĩ mong muốn, hay ít nhất để tránh cho họ những hiểu lầm.
Khả năng phân tích tâm lí ít được để ý đến, nhưng là yêu cầu cốt tử để phân biệt một dịch giả giỏi với một dịch giả xoàng. Nó giống như giọt mực trong một truyện Cây bút thần: Thiếu nó, con chim mà chàng hoạ sĩ vẽ trên giấy không thể hoá thành chim thật để vỗ cánh bay đi.
Như đã nói, những suy nghĩ về tính sáng tạo của dịch thuật cũng không phải của riêng tôi. Rất nhiều người đã viết về nó, và, cũng như tôi, họ đều không thay đổi được quan niệm truyền thống về dịch thuật.
Những suy nghĩ về bản chất của hoạt động sáng tác và dịch thuật khiến tôi đi đến một kết luận bất ngờ: Sáng tác cũng chỉ là một dạng dịch thuật đặc biệt mà thôi. Tôi xin trình bày luận điểm này một cách vắn tắt dưới đây.
Chúng ta đều biết rằng sáng tác thường được quan niệm như là một quá trình tương tác của bốn thành tố: Nhà văn, Thực tại, Ngôn ngữ, và Người đọc. Bốn thành tố này có lẽ đã được Aristotle chỉ ra đầu tiên và trong hai ngàn năm nó không ngừng được sử dụng dưới những cái tên ít nhiều thay đổi. Nhưng chúng ta vẫn có thể đặt ra câu hỏi: Bốn thành tố này có bình đẳng hay không?
Không cần phải suy nghĩ quá cao siêu để thấy rằng câu trả lời là phủ định. Không chỉ tác phẩm, mà cả ngôn ngữ và thực tại cũng phụ thuộc vào nhà văn và người đọc, bởi lẽ đối với họ thực tại không bao giờ đồng nhất và ngôn ngữ cũng khác nhau. Mỗi người Việt có một nước Việt Nam và một tiếng Việt của riêng mình. Mỗi người Anh cũng có một nước Anh và một thứ tiếng Anh của riêng mình như thế.
Khi sáng tác, nhà văn muốn truyền tải đến người đọc một thông điệp gì đó, mang tính thẩm mĩ, đạo đức hay nhận thức chẳng hạn. Để làm việc đó, anh/chị ta mơ hồ hình dung - bằng kinh nghiệm, tri thức và cả trực giác - một người đọc trừu tượng, hay người đọc trung bình, kẻ sẽ đọc tác phẩm của mình. Độc giả trung bình đó, cũng như mọi độc giả khác, nói một thứ tiếng khác, gần gũi nhưng không đồng nhất với ngôn ngữ của nhà văn. Trong vô số những phương án khác nhau, nhà văn, cũng bằng một cách mơ hồ, phải lựa chọn một thứ ngôn ngữ mà anh/chị ta hình dung người đọc trừu tượng kia sẽ đọc và sẽ hiểu - Trong trường hợp này là một thứ tiếng trung bình của người đọc trung bình kia - để biểu đạt các ý đồ nghệ thuật của mình. Dẽ thấy rằng nếu tác giả không định viết chỉ cho mình hay chỉ cho một độc giả cụ thể, thứ ngôn ngữ đó không phải là ngôn ngữ riêng của nhà văn, cũng không phải là ngôn ngữ của độc giả cụ thể nào. Nó là thứ ngôn ngữ mà tác giả hình dung là "trung bình" của một lớp độc giả mà anh/chị ta hướng tới.
Như vậy, về thực chất, sáng tác chính là dịch thuật: Tác giả dịch các ý đồ nghệ thuật của mình (bao gồm ý tưởng, nhân vật, ngôn từ, cấu trúc, kĩ thuật...) từ ngôn ngữ cá nhân của mình sang thứ ngôn ngữ của độc giả trừu tượng. Vì thứ ngôn ngữ trung bình chỉ là một khái niệm trừu tượng do chính tác giả lựa chọn nên tác phẩm cũng phụ thuộc vào khả năng cá nhân của anh/chị ta, đồng thời cũng phụ thuộc vào độc giả. Về bản chất, thứ ngôn ngữ trung bình như vậy là khác nhau ở các tác giả và người đọc khác nhau, vì thế mà có sự cảm nhận khác nhau đối với tác phẩm. Ta có thể tiên đoán rằng trong một xã hội phát triển, khi giao tiếp xã hội thuận lợi, và riêng trong văn học, khi số lượng tác phẩm lớn và được phổ biến rộng rãi, sự khác biệt giảm đi. Tuy nhiên, sự khác biệt này không bao giờ biến mất.
Trong quá trình sáng tác, người viết phải đóng một lúc hai vai: Vai tác giả (thực ra là dịch giả) và vai độc giả. Nếu nhập vai tốt, anh/chị ta sẽ chọn được thứ ngôn ngữ phù hợp, tức là thứ ngôn ngữ qua đó người đọc sẽ cảm nhận được chính xác và đầy đủ nhất ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Điều này không phải dễ như chúng ta tưởng. Một người bản ngữ Anh, chẳng hạn, khi viết hoặc nghĩ bằng tiếng Anh, luôn luôn có xu hướng coi tiếng Anh là một cái gì đó trung tính và phổ quát, và vì thế thường sử dụng chính thứ tiếng Anh của riêng mình để viết. Kết quả là tác phẩm của anh/chị ta được người đọc tiếp nhận khác, hoặc khác hẳn, với những gì anh/chị ta muốn viết. Trong những trường hợp đặc biệt, tác phẩm thậm chí hoàn toàn vô nghĩa. Điều này là một lí do quan trọng giải thích tại sao một cảm xúc, một cốt truyện có thể được viết ra với hiệu quả thẩm mĩ khác nhau. Nói cách khác, tại sao một người viết hay, người khác viết dở.
Sự khác nhau giữa sáng tác và dịch thuật đơn giản chỉ là ở chỗ tác giả có quyền lựa chọn chỉ viết về những gì quen thuộc, bằng thứ ngôn ngữ quen thuộc, với những kĩ thuật và thủ pháp quen thuộc, còn dịch giả buộc phải lao động với những gì đã được tác giả lựa chọn sẵn. Dịch giả, vì thế, giống như một nhạc công buộc phải biểu diễn với cây đàn thiếu dây. Dịch thuật là hoạt động sáng tạo với ít tự do hơn và nhiều đòi hỏi hơn so với sáng tác.
Ở đây tôi vẫn dùng các thuật ngữ "sáng tác" và "dịch thuật" theo nghĩa truyền thống, nhưng cần lưu ý rằng sự phân biệt truyền thống cũng không phải lúc nào cũng rạch ròi. Trong một số trường hợp, các tác giả có thể chấp nhận những ý đồ nghệ thuật do xã hội hoặc người khác quy định, mà ví dụ thường thấy là viết theo đơn đặt hàng: Goethe viết theo yêu cầu của triều đình, Balzac - theo yêu cầu của chủ nợ, các nhà văn thời chống Mĩ ở Việt Nam - theo yêu cầu của cuộc chiến tranh. Sự giới hạn về chất liệu, ngôn ngữ và thủ pháp cũng có thể là tự nguyện, như khi người ta viết văn nhại, viết tiểu sử, hồi kí, sử kí...hay trong trường hợp soạn lại các tích cũ.
Một hệ quả trực tiếp của các phân tích trên đây là bản dịch có thể hay hơn bản chính. Tôi biết quan điểm này có thể làm mếch lòng một số lí thuyết gia về dịch thuật, những người luôn đòi hỏi bản dịch trung thành tuyệt đối, nghĩa là không hay hơn, không dở hơn bản gốc, chẳng hạn nếu trong bản chính có những lỗi ngớ ngẩn thì bản dịch cũng phải có những lỗi ngớ ngẩn tương tự. Nhưng nếu các lí thuyết gia này đồng ý rằng cuốn sách với cuốn tiểu thuyết không phải là một thì họ cũng sẽ đồng ý với tôi. Cuốn sách, một sản phẩm vật chất, bao gồm những tờ giấy có các kí hiệu in bằng mực, là chung cho mọi người và có thể tái tạo gần như tuyệt đối trung thành. Nhưng cuốn tiểu thuyết, tức là cái nội dung mà người đọc có thể tìm thấy trong cuốn đó bằng cách đọc các kí hiệu theo một trình tự nhất định, thì phụ thuộc vào người đọc. Cách tiếp nhận tác phẩm có thể rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Ở một số trường hợp, bản dịch có thể giúp người đọc đến gần hơn với ý đồ nghệ thuật của tác giả. Trong bài Cám dỗ và vinh quang của dịch thuật tôi có viết rằng mặc dù dịch là phản, đối với đa số người đọc không phải là bản ngữ, bản dịch phản bội ít hơn. Đây không phải là thứ nói ngược để gây ấn tượng. Làm sao một người Việt Nam không biết tiếng Nga lại có thể thấy nguyên bản cuốn "BOЙHA И MИP" trung thành trung thành với ý đồ nghệ thuật của Lev Tolstoi hơn bản Chiến tranh và hoà bình, trong tiếng Việt được? Trong một số trường hợp khác, bản dịch tạo nên những hiệu quả thẩm mĩ lớn hơn so với bản gốc. Tôi tin rằng bản Chinh phụ ngâm tiếng Việt của Đoàn Thị Điểm có hiệu quả thẩm mĩ đối với người Việt lớn hơn nhiều so với hiệu quả bản chữ Hán của Đặng Trần Côn tạo nên đối với người Trung Quốc.
Một hiện tượng đặc biệt đáng chú ý khác là cái gọi là "dịch thoáng", "phỏng dịch" hay "tác dịch" - như ở tên tập Cổ thi tác dịch của Thái Bá Tân - trong đó dịch giả tự dành cho mình nhiều tự do hơn trong khi viết lại tác phẩm bằng một ngôn ngữ khác. Lối dịch này bị không ít người nhìn nhận với ít nhiều nghi ngại. Nhưng nói một cách chặt chẽ thì tất cả các bản dịch đều là phỏng dịch, bởi lẽ ngay cả việc dịch những câu đơn giản như "BOЙHA И MИP" trong tiếng Nga sang "Comment vous appellez-vous?" trong tiếng Pháp hay "Tên anh là gì?" trong tiếng Việt đã đòi hỏi phải có sự thay đổi cả về cấu trúc lẫn từ vựng. Sự tương ứng về nghĩa của các từ cũng không bao giờ hoàn hảo. Chẳng hạn, từ "rice" trong tiếng Anh trong những truờng hợp cụ thể phải dịch là "lúa", "thóc", "gạo", "cơm"... Do vậy, trên thực tế không hề có cái gọi là dịch-từng-chữ (mot à mot). Nhưng đó lại là chủ đề của một bài khác. Ở đây, tôi chỉ muốn nói rằng trong không ít trường hợp, những bản "phỏng dịch" trở thành những sáng tác độc lập, thậm chí hay hơn so với bản chính. Truyện Kiều đã trở thành kiệt tác bằng con đường như vậy.
Những điều vừa nói không chỉ đúng ở quy mô một văn bản, khi dịch giả làm việc với các từ, các thành ngữ, các câu, các đoạn văn và điển tích, chuyển chúng từ tiếng này sang tiếng khác v.v..., mà còn đúng cả với những quy mô lớn hơn: các đề tài, các mô típ, các phong cách, các trào lưu... Đó chính là bản chất của cái mà chúng ta quen gọi là "ảnh hưởng": Không có gì đáng ngạc nhiên nếu trong thơ của một nhà thơ Việt Nam ta gặp Lí Bạch hay Basho, trong truyện của một nhà văn Hàn Quốc có Maupassant hay Tsekhov. Trong trường hợp ấy, nhà văn đã dịch trọn vẹn các tác giả anh/chị ta yêu thích sang tiếng mẹ đẻ của mình.
Ví dụ ảnh hưởng như vậy có thể thấy rõ qua phong trào Thơ Mới của Việt Nam hồi thế kỉ XX. Bài Yêu của Xuân Diệu, chẳng hạn, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bài Rondel de l'adieu (Khúc rông đô giã biệt) của nhà thơ Pháp Edmond Haraucourt (1856?-1941). Nguyên văn bài thơ của Edmond Haraucourt như sau:
RONDEL DE L'ADIEU Partir, c'est mourir un peu, C'est mourir à ce qu'on aime: On laisse un peu de soi-même En toute heure et dans tout lieu. C'est toujours le deuil d'un voeu, Le dernier vers d'un poème: Partir c'est mourir un peu. Et l'on part, et c'est un jeu, Et jusqu'à l'adieu suprême C'est son âme que l'on sème, Que l'on sème à chaque adieu: Partir, c'est mourir un peu.
Sau đây là bản dịch của tôi:
KHÚC RÔNG ĐÔ GIÃ BIỆT Ra đi, nghĩa là chết một ít Chết cho những gì yêu thương: Ta gửi một chút ta ở lại Mỗi nơi mỗi phút trên đường. Mãi mãi là lễ tang niềm ước nguyện, Câu cuối cùng của một bài thơ: Ra đi nghĩa là chết một ít Nhưng ta vẫn ra đi, như vào một cuộc chơi, Cho đến lần giã từ sau chót Đem hồn mình gieo gửi ở muôn nơi, Gieo gửi ở mỗi lời giã biệt: Ra đi, nghĩa là chết một ít.
Còn đây là bài thơ của Xuân Diệu:
YÊU Yêu, là chết ở trong lòng một ít. Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu? Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu: Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết. Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt, Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu, Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu! - Yêu, là chết ở trong lòng một ít. Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt, Những người si theo dõi dấu chân yêu; Và cảnh đời là sa mạc vô liêu. Và tình ái là sợi dây vướng vít. Yêu, là chết ở trong lòng một ít.
Chắc chắn bạn đọc nhận ngay ra sự tương đồng đáng ngạc nhiên giữa hai bài thơ này, không chỉ tứ thơ, mà cả về hình thức thể hiện: Cả hai bài đều có ba khổ, câu đầu tiên được lặp lại ở cuối khổ hai và cũng là câu cuối. Điều đáng ngạc nhiên nữa là ngay cả cách sử dụng các dấu câu của Xuân Diệu và Edmond Haraucourt cũng rất giống nhau, nhất là trong câu mở đầu, cũng là cấu tạo chủ đề: Sau từ "partir" (ra đi) và từ "yêu" là dấu phẩy. Nếu đọc hai bản tiếng Việt và tiếng Pháp, mặc dù hai ngôn ngữ rất khác nhau, nhưng ta không thể không cảm thấy cái âm hưởng chung rất gần gũi mà ngay cả sự khác biệt ngôn ngữ cũng không thể nào xoá được.
Đôi khi người ta có thể dịch cả một thời đại. Đó là trường hợp của Thái Bá Tân khi anh sáng tạo ra thể lục ngôn. (Anh đã in tập Lục ngôn thi tập, gồm 400 bài thơ sáu câu sáu chữ). Tôi tin chắc anh đã sáng tạo nó theo một trình tự như sau. Anh biết, ngay từ khi còn học đại học, rằng thơ cổ Triều Tiên và Nhật Bản được coi là rất độc đáo, rằng đó là những thứ thơ bất hủ. Anh quyết định dịch chúng. Mà đã dịch thì phải dịch thật nhiều. Và anh dịch rất nhiều. Vừa dịch, anh vừa làm quen với chúng và tập yêu thích chúng. Rồi anh yêu thích chúng thực sự, mặc dù không phải là cách yêu thích thuần tuý: Lúc nào bên cạnh niềm yêu thích vô tư cũng hiện diện một áp lực bên ngoài, mới đầu là áp lực của những nhà nghiên cứu khắp thế giới cùng uy tín phi thường của thứ thơ xa lạ, về sau là áp lực của thói quen và của niềm tự hào về công việc. Thế rồi, anh dần dần mô hình hoá loại thơ này, anh biết, hay ít nhất nghĩ rằng mình biết, vì sao nó nổi tiếng, nét độc đáo của nó là gì. Anh khái quát những chủ đề chính, những cảm hứng chủ đạo, những thủ pháp thường dùng... Cuối cùng, anh cảm thấy rằng anh hoàn toàn có thể tạo ra một thứ thơ tương tự. Một thứ thơ chưa từng có nhưng tương tự những gì từng có. Chưa từng có, để là sáng tạo của anh. Tương tự, để có cơ may trở thành bất tử. Thơ lục ngôn của anh có lẽ ra đời như thế.
Viết những dòng này tôi hoàn toàn không có ý định bình phẩm tập thơ của Thái Bá Tân cũng như cách làm việc của anh. (Tôi đã có riêng một bài về Thái Bá Tân). Tôi lấy Thái Bá Tân làm ví dụ, nhưng đó là suy nghĩ của tôi về tất cả những người cầm bút. Tất cả các nhà văn, trong đó có tôi, đều là dịch giả, những người dịch văn chương, và trong và chỉ trong những khoảnh khắc dũng cảm hay tuyệt vọng, chúng tôi cũng đồng thời dịch chính mình.
Nhưng có lẽ dịch thuật cũng không phải là đặc quyền của các nhà văn. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng sống cũng chính là dịch thuật.
Dịch cái gì? Linh hồn, trái tim, trí óc.
Dịch bằng cách nào? Bằng hành động và thái độ.
Dịch cho ai? Cho tất cả những người quen và không quen, những người ta yêu và ghét, những người gần gũi và xa lạ, những người yêu ta và căm ghét ta.
(Theo viet-studies.info)
|
|